Chương trình văn học – âm nhạc giới thiệu „Truyện Kiều“ của Nguyễn Du qua bản dịch tiếng Đức của Irene và Franz Faber và „Tổ khúc Kiều“ viết cho đàn Guitar của nhạc sỹ Đặng Ngọc Long tại Viện Bảo tàng Khảo cổ học Quốc gia Chemnitz ngày 12.8.2017 từ 19.00 h – với giọng đọc của nữ nghệ sỹ Christiane Voigt và tiếng đàn độc tấu của chính nhà soạn nhạc. Ở phần cuối chương trình sẽ có một toạ đàm và giao lưu với những người tham gia dự án „Truyện Kiều song ngữ Đức-Việt“ (Lưu ý: Vì tính chất và khuôn khổ của sự kiện, ngôn ngữ được sử dụng trong chương trình là tiếng Đức)

Das Mädchen Kiều bei smac in Chemnitz am 12.8.2017

Galerie

Das Mädchen Kiều & Suite Kiều

smac_Haus_2

Lesung mit Gitarre zum Nationalepos Vietnams

Termin: Sa. 12.08. um 19.00 Uhr
Ort: Foyer des smac
smac – Staatliches Museum für Archäologie Chemnitz
Stefan-Heym-Platz 1
09111 Chemnitz

Anlässlich der Ausstellung Schätze der Archäologe Vietnams stellen wir das vietnamesische Nationalepos „Das Mädchen Kiều“ vor.

Der Versroman „Truyên Kiêu“ aus dem 18. Jh. ist für die Literatur Vietnams wegweisend. Wie kein zweiter verstand es der Autor Nguyên Du, die volkstümliche vietnamesische Versschöpfung mit der gediegenen Kultur chinesischer Klassik zu verbinden. „Das Mädchen Kiêu“ wird nicht nur wegen seiner fortschrittlichen Thematik bewundert, sondern auch wegen seiner poetischen Sprache. Die Frische eines Frühlingsspaziergangs, die Schrecknisse einer unheilvollen Nacht, die Empfindungen eines keuschen Mädchens, die niedrige Gier eines Bordellbesitzers — es gibt kein Bild, das die Feder des Dichters nicht mit vortrefflicher Leichtigkeit zeichnet.

In siebenjähriger gemeinsamer Arbeit übersetzten Irene und Franz Faber den Versroman, der 1964 das erste Mal in deutscher Sprache veröffentlicht wurde. Aus Anlass des 250. Geburtstages des Dichters ist im letzten Jahr eine zweisprachige Ausgabe dieses Werkes mit Unterstützung des Vereins vietnamesischer Unternehmer in Deutschland e.V. erschienen. Die Titelillustration stammt von der Malerin Claudia Borchers, die auch Mitherausgeberin des Werkes ist.

Die Radio- und Hörbuchsprecherin Christiane Voigt liest aus der deutschen Nachdichtung des Werkes. Der Komponist Prof. Dang Ngoc Long bereichert den Abend mit seinem eigens zu diesem Versepos erarbeiteten akustischen Gitarrensolo „Suite Kiều“.

Der Literaturwissenschaftler und Mitherausgeber Dr. Truong Hong Quang führt in das Werk ein.

Eintritt 7 € | ermäßigt 5 € | Für Mitglieder der Freunde des smac e.V. ist der Eintritt frei.

http://www.smac.sachsen.de/veranstaltungen-details.php?id=1266

Standard

Charles Benoit (Lê Vân Nam), NÀNG KIỀU VÀ TÔI

Benoit-HaTinh-01a.png

Tác giả Charles Benoit (thứ ba từ trái sang) tại khu di tích Nguyễn Du, Hà Tĩnh, ngày 09.08.2015 (ảnh từ tư liệu video của THQ)

Lời giới thiệu trên tạp chí „Xưa và nay“:

Cuối năm ngoái, một lần đến chơi nhà học giả Nguyễn Đình Đầu tại thành phố Hồ Chí Minh, tôi gặp một người nước ngoài có vóc người đậm đà, tuổi trạc ngũ tuần. Anh ta đang mải mê trao đổi với một chuyên viên máy tính về chương trình làm chế bản bằng chữ Hán và Nôm. Chủ nhà chỉ vào người khách nước ngoài và giới thiệu với tôi: “Đây là một người bạn cũ của tôi”, rồi ông kể: “Anh ấy người Mỹ có một cái tên rất hay là Charles Benoit, lại mang tên Việt là Lê Vân Nam. Anh ta đến Sài Gòn đầu năm 1967 vào lúc Mỹ đang leo thang can thiệp vào cuộc chiến ở Việt Nam. Để khỏi phải đi quân dịch, anh ta, lúc đó mới hai mươi tuổi, là sinh viên, đã nhận một đề tài sang Việt Nam nghiên cứu. Lúc đó phong trào kháng chiến bắt đầu mạnh, Benoit gần gũi với nhóm người đã tham gia phanh phui vụ thảm sát Mỹ Lai hoặc chế độ nhà tù “chuồng cọp” như Don Luce, Mike Morrow… Đất nước và con người Việt Nam không những làm anh ta chán ghét cuộc chiến tranh bẩn thỉu mà còn thân yêu và gắn bó với mảnh đất này, Benoit lấy vợ Việt Nam và say mê với việc nghiên cứu Truyện Kiều. Năm 1981, Charles Benoit đã bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ về văn hóa và ngôn ngữ Đông Á với đề tài “Sự chuyển biến của truyện Vương Thúy Kiều từ một sự kiện lịch sử Trung Hoa thành một kiệt tác văn học Việt Nam” (The Evolution of the Wang Cuiqiao Tale: From Historical Event in China to Literary Masterpiece in Vietnam) tại trường đại học danh tiếng Harvard. Tôi cho rằng anh ấy đáng được coi là một chuyên gia ngoại quốc hàng đầu về Truyện Kiều của ta…” Vừa lúc đó, anh bạn Mỹ rời chiếc máy tính ra góp chuyện với chúng tôi. Câu đầu tiên anh ta đính chính: “Nói cho đúng, tôi là “bạn vong niên” với ông Nguyễn Đình Đầu”. Cả câu nói, và đặc biệt câu “bạn vong niên” được anh phát âm rất chuẩn theo giọng Sài Gòn chính hiệu. Được hỏi vì sao anh đến với Truyện Kiều? Charles Benoit – Lê Vân Nam nói: “Để nghiên cứu Việt Nam, tôi đứng trước sự lựa chọn giữa hai con đường: nghiên cứu tất cả các lĩnh vực hoặc đi sâu vào một vấn đề cụ thể. Tôi đã chọn con đường thứ hai và bắt đầu bằng “Truyện Kiều”. Càng ngày tôi càng hiểu rằng tôi đã đi đúng hướng vì chỉ qua tác phẩm bất hủ này tôi không chỉ học được ngôn ngữ mà còn hiểu biết được tâm hồn, văn hóa của con người Việt Nam, kể cả lịch sử nữa mặc dầu tích truyện vốn mượn của Trung Hoa. Ngày 30.4.1975 tôi đang ở Hồng Kông, suốt từ đó cho tới năm 1989, 14 năm liền tôi không trở lại Việt Nam được, tôi đã chuyển hẳn sang nghiên cứu văn hóa Trung Hoa. Vậy mà chỉ sau ngày các bạn “mở cửa” tôi có cơ hội trở lại Việt Nam, tôi càng thấm hiểu rằng Việt Nam đã ở trong máu thịt của tôi và Truyện Kiều mà tôi hằng say mê đã gắn bó tôi với quê hương của đại thi hào Nguyễn Du…” Giờ đây công việc của Charles Benoit là điều hành một công ty tư vấn đầu tư có trụ sở chính ở Bangkok và có chi nhánh ở thành phố Hồ Chí Minh. Về công việc làm ăn của mình, anh bạn Mỹ nói: “Hết cấm vận rồi, công việc kinh tế đang cuốn hút tôi, càng ngày tôi càng nghiệm thấy rằng: hiểu biết văn hóa là cánh cửa rộng nhất để thâm nhập vào kinh tế. Vì hiểu Truyện Kiều mà tôi hiểu được thị trường của tôi, khách hàng, đối tác của tôi, do vậy làm ăn suôn sẻ hơn… và cũng vì vậy gần đây tôi cố gắng dành thời gian để trở lại tiếp tục nghiên cứu Truyện Kiều, một kho tàng vô giá của dân tộc các bạn”. Lúc chia tay, Charles Benoit hứa nếu rỗi rãi sẽ có dịp viết bài cho Xưa và Nay. Nghĩ rằng đang bận rộn với doanh nghiệp của mình, lời hứa đó chỉ là xã giao. Vậy mà chỉ hơn một tháng sau từ Bangkok, Charles Benoit – Lê Vân Nam đã fax cho Xưa và Nay một bài viết bằng tiếng Việt. Trong lá thư kèm theo tác giả đã cho phép “thêm bớt”, nhưng chúng tôi thấy chỉ cần có một lời “phi lộ” như trên, còn bài viết của anh bạn Mỹ thì để nguyên vẹn không thêm bớt một dấu chấm phẩy.

KGS thực hiện

Tôi viết đầu đề như trên ắt phải nghĩ trong lòng làm sao Vương Thúy Kiều có thể làm quen với một người nước ngoài. Và cũng nghĩ thêm làm sao người nước ngoài đó lại là tôi được. Nhưng thực sự điều đó là có thiệt. Chúng tôi quen nhau cho đến nay đã hơn hai mươi bảy năm. Hình như trong đời tôi, ngoài Mẹ và Chị trong gia đình, không có người phụ nữ nào tôi quen lâu hơn hay quen thân hơn. Vì nhiều năm đã qua, tôi không còn nhớ rõ ai là người giới thiệu. Tôi cũng không còn nhớ chúng tôi gặp nhau lần đầu ở đâu. Tôi chỉ biết là cuối năm 1967 tôi đã gửi thư về cho cô giáo dạy tôi tiếng Việt lúc chưa sang đây và báo tin mừng cho cô biết là nàng Kiều và tôi đã là bạn rồi.

Thực sự điều mà chúng tôi làm quen với nhau là hoàn toàn do tôi cả. Tôi còn nhớ rất rõ hoàn cảnh tâm lý của tôi lúc chưa làm quen với nàng Kiều. Lúc đó tôi đang phân vân nên học cái gì để hiểu thêm về Việt Nam. Tôi muốn kiếm một cái gì thuần túy Việt Nam mà có thể làm tiêu biểu cho cái sâu sắc, cho cái tinh vi của Việt Nam. Thiết nghĩ đặt vấn đề như thế thì sự gặp gỡ giữa nàng Kiều và tôi chỉ là vấn đề thời gian mà thôi.

Gặp rồi cũng chưa phải là được thân liền. Đối với một người nước ngoài, dù có mê mẩn đi nữa, nàng Kiều còn nhiều xa lạ. Nào là chữ Hán, nào là chữ Nôm, nào là điển cố phức tạp. Kiều là đàn bà nhiều chuyện chăng? Lúc đầu tôi cảm thấy như có khi tính tình cô ta rất sôi động, nhưng cũng nhiều khi tôi nghĩ cô ta rất là im lặng và khó hiểu.

Dù nhiều vấn đề phiền toái, không phải vì thế mà tôi dám đoạn giao. Cứ từ từ. Bạn bè Việt Nam ai cũng khuyên tôi nên làm như vậy. Vả lại, trong lúc hai người đang tìm hiểu nhau, cũng có nhiều chuyện thích thú.

Như bữa kia trên nóc tủ đựng quần áo của bà ngoại trong nhà của vợ tôi, tôi tình cờ lượm được một cuốn sách cũ bìa rách nát bị mọt nhiều chỗ nhưng không thiếu một chữ nào. Cuốn đó là Kim Vân Kiều Truyện của Trương Vĩnh Ký in hồi 1875, là bản Kiều quốc ngữ đầu tiên. Sao trong chính nhà mình lại có thể có một cuốn sách quý báu mà mình từ trước không hề hay. Ngoài cuốn này ra, bà ngoại không làm chủ một cuốn sách nào khác! Tôi xin cuốn ấy làm tài liệu nghiên cứu, bà cho liền. Mặc dầu ít thấy bà ngoại đọc sách, thỉnh thoảng bà cũng lấy Truyện Kiều ra để đọc chơi và giải buồn

Cảo thơm lần giở trước đèn

Có một bữa tôi được mời đến nhà nhạc sĩ Nguyễn Hữu Ba để ăn cơm thân mật. Vì tổ chức từ thiện Mỹ (Ford Foundation) mà lúc ấy tôi đang làm giám đốc có đài thọ một dự án về nhạc cổ truyền Việt Nam, ông Ba cũng mời một số người tri âm để giới thiệu cho tôi. Khi ăn cơm xong, có biểu diễn đàn tranh, đàn bầu (tôi vẫn thích nhứt nhạc khí này), và đặc biệt hơn hết, vì ông Ba biết tôi đang cố làm quen với nàng Kiều, lại có cô Hồ Điệp ngâm Kiều nữa. Tuyệt vời.

Ve ngâm vượn hót nào tày

Và cũng có bữa một người làm trong sạp bán sách cũ đường Lê Lợi đưa cho tôi một miếng giấy viết tay. Trên giấy chỉ đề tên và địa chỉ của một người. Tôi được làm quen với Giáo sư Nguyễn Văn Y như thế. Ông Y nghe mấy người bán sách cũ nói có một người Mỹ hay đi lục sách liên quan đến Kiều mà mua. Nên ông Y muốn gặp tôi để trao đổi ý kiến. Hai người kết làm bạn và gặp nhau thường xuyên sau đó. Trong thời gian ngay sau giải phóng miền Nam, lúc tôi đang viết luận án tiến sĩ về Truyện Kiều tại đại học Harvard bên Mỹ, ông Y là người giúp tôi tìm tài liệu tại Việt Nam. Không có sự giúp đỡ đó, chắc tôi không hoàn tất được luận án! Trong đề tựa của luận án, tôi có cảm ơn Giáo sư Y trước tiên.

Ấy là ơn sâu

Năm 1975 vì không có ý định về nước cho nên tất cả tài liệu mà tôi đã sưu tầm được trong thời gian bảy năm trước vẫn nằm y nguyên tại văn phòng của Ford Foundation (236 Pasteur). Riêng tôi thì lúc quân đội giải phóng vào Sài Gòn, tôi đang dẫn con ra khỏi nước cho an toàn và sau đó tôi ở luôn nước ngoài vì không được về Việt Nam nữa. Vì tổ chức Ford là tổ chức từ thiện mà không hề ủng hộ chính phủ cũ, ban giám đốc, cũng như các nhân viên Việt Nam, quyết định chừng nào có chính phủ mới, chúng tôi sẽ không đóng cửa và tiếp tục hoạt động như thường. Nhưng không ai ngờ rằng sự hiện diện của nàng Kiều trong văn phòng sẽ gây ra một việc đáng tiếc.

Vì ta nên lụy đến người

Từ mấy năm trước tôi cố hiểu từng chữ của văn Kiều. Khi nào rảnh, thường là ngay sau khi làm việc hay lúc mọi người khác đang nghỉ trưa, tôi biên nghĩa chữ vào thẻ để giúp trí nhớ. Lúc ấy tôi có chừng vài ba trăm thẻ. Trên thẻ có chữ Hán, chữ Nôm, chữ Việt, chữ Pháp tùm lum. Nói chung, thấy cái gì hay mà tôi muốn nhớ thì tôi cứ viết vào thẻ cho khỏi quên (Lúc ấy chưa có cuốn Từ điển Truyện Kiều của Đào Duy Anh). Không ai ngờ các thẻ ấy sẽ được coi như là một việc hoàn toàn khác. Nàng Kiều thừa biết sự thật. Sao nàng lại không nói giùm một tiếng nào? Hay là có nói mà người ta không tin chăng?

Nghe lời chàng cũng hai đường tín nghi

Vì văn phòng Ford không đóng cửa như bao nhiêu sở Mỹ khác, vì trong ấy có nhiều sách vở liên quan đến Truyện Kiều mà người ta cho là không thể nào là sách của một người nước ngoài, và hơn hết vì có hàng trăm thẻ viết gì không ai biết rõ nghĩa, cho nên văn phòng Ford bị coi như là một cơ quan bí mật nào đó và các thẻ bị kết án là mật mã để liên lạc với người nước ngoài. Rất oan cho các anh chị phụ tá của tôi lúc ấy.

Tiếc thay trong giá trắng ngần
Đến phong trần cũng phong trần như ai

Bây giờ mặc dù tôi đã cố làm sáng tỏ việc này và được biết đích xác các tài liệu và sách cũ vẫn được giữ ở một nơi để làm bằng chứng, nhưng cho đến nay tôi cũng chưa minh oan được gì cả.

Tiếng oan dậy đất, án ngờ lòa mây

 Benoit-HaTinh-02a.png

Tác giả Charles Benoit tại Nghĩa trang Ngã ba Đồng Lộc, Hà Tĩnh, ngày 10.08.2015 (ảnh từ tư liệu video của THQ)

Sau mười mấy năm xa cách tôi bắt đầu trở lại Việt Nam từ năm 1989. Và từ năm đó tôi cũng bắt đầu liên lạc lại với nàng Kiều. Lúc đầu cũng hơi gượng vì bỏ nhau quá lâu. Thật may là các thẻ mới mà tôi đã cất kỹ từ khi viết luận án nay vẫn còn. Lần hồi tôi lấy ra đọc lại. Nhờ các thẻ ấy bây giờ nàng Kiều không còn gì xa lạ khó hiểu đối với tôi nữa. Thỉnh thoảng cũng có những xích mích về điều nhỏ nhặt, nhưng nói chung, chúng tôi rất thân nhau. Hiện tại gần như không có ngày nào mà chúng tôi không gặp nhau.

Hoa xưa ong cũ mấy phân chung tình

Bây giờ số các thẻ đã lên đến ba bốn chục ngàn. Chữ Hán, chữ Nôm, điển cố, xuất xứ đều có ghi. Mục đích không còn chỉ là để hiểu thấu một phụ nữ xuất sắc nữa. Mục đích là để tìm cách giới thiệu nàng Kiều với nhiều người nước ngoài khác. Các thẻ sẽ là cơ sở để thực hiện việc đó. Hiện tôi đang làm một bản dịch bằng tiếng Anh. Hình thức tương tự như công trình của Nguyễn Văn Vĩnh, tức là dịch từng chữ rồi dịch sát nghĩa nguyên câu bao gồm đầy đủ chú thích. Đây sẽ là tài liệu để vừa học Truyện Kiều, vừa ôn lại tiếng Anh. Sở dĩ hôm nay tôi đọc và hiểu được tiếng Pháp là nhờ mấy năm trước, lúc mới bắt đầu làm quen với nàng Kiều, tôi đọc đi đọc lại bản dịch của ông Vĩnh.

Giá đành tú khẩu cẩm tâm khác thường

Gần đây có người hỏi tôi chừng nào có thể làm xong công việc dịch thuật này. Nếu mỗi năm câu làm mất hai tiếng đồng hồ và có hơn ba nghìn câu, thì… Vậy thì phải làm lẹ lên kẻo muộn. Chỉ có nàng Kiều vẫn đẹp và có duyên.

Một thiên tuyệt bút gọi là để sau

* * *

Câu chuyện trên đây của tôi đã được đăng trên Tạp chí Xưa và Nay, số 13 (tháng 3/1995). Những tưởng vậy là đủ. Nhưng hóa ra, mối duyên giữa nàng Kiều và tôi vẫn “gập ghềnh”.

Từ khoảng năm 1993, thỉnh thoảng có dịp ra Hà Nội, tôi hay đến thăm một tiệm sách cũ nằm trong một ngôi nhà riêng. Chủ tiệm là người nhã nhặn lịch sự. Dần dà chúng tôi quen thân nhau. Nào là uống trà, nào là nói chuyện đời xưa. Một hôm, ông ấy khoe một cuốn sách rất đặc biệt là bản dịch Truyện Kiều bằng chữ Hoa của Hoàng Dật Cầu in ở Trung Quốc năm 1959. Đây là một thí dụ thú vị cho „kỹ thuật ngược“, vì cốt truyện của Truyện Kiều vốn là tiểu thuyết Trung Hoa.

Đặc biệt nhất là bản dịch này đã được người sở hữu chế thành cuốn sách song ngữ bằng cách tháo rời cuốn sách cũ ra để đưa những trang mới vào giữa mỗi trang cũ, sau đó đóng lại thành sách mới. Cuối cùng, trên các trang trống là toàn văn Truyện Kiều tiếng Việt được chép lại bằng nét chữ tuyệt đẹp. Chắc người này cũng mê Kiều một cách bất thường.

Tôi cứ tự hỏi ai là người đã kỳ khu làm công việc này và làm trong trường hợp nào?? Là người Việt sống tha hương tại Trung Quốc thời chiến tranh mà nhớ nhà chăng?

Chủ tiệm không còn nhớ sách ở đâu đến. Tôi xin mua nhưng ông ấy xin lỗi từ chối vì đó là của riêng không thể bán. Rất nhiều lần tôi trở lại cốt để mua cuốn sách đó nhưng không lần nào thành công. Tôi thấy mắc cỡ vì xin mua hoài nhưng không sao bỏ cuộc. Rõ ràng không giá nào mua được cuốn sách đó.

Rồi một hôm, tôi đến như lệ thường, ông ấy vừa đọc bài viết của tôi đăng trên Xưa và Nay. Lần này không ai đề cập đến sách cũ chỉ chuyện trò xã giao một lát. Lúc tôi từ giã, ông ấy mỉm cười, không nói lời nào, đưa cho tôi một gói nhỏ. Ra ngoài đường mở coi, mới biết đó là cuốn sách quý ông ấy tặng cho tôi. Đó vẫn là một trong những cuốn sách quý nhất trong tủ sách của tôi.

Trong bài viết cho Xưa và Nay, tôi đã kể rằng hết cấm vận, ngay khi Việt Nam thi hành chính sách mở cửa, năm 1993, tôi đã trở lại Việt Nam. Tôi mở công ty tư vấn đầu tư có trụ sở chính ở Băng Cốc và chi nhánh tại thành phố Hồ Chí Minh. Nhưng công việc không trôi chảy. Visa của tôi luôn được xét cấp một cách rất khó khăn. Việc các thẻ chú thích Truyện Kiều đã bị nghi ngờ từ hồi 1975 vẫn ám ảnh tôi như trước. Theo thói quen lúc ấy, đi đâu tôi cũng xách theo một hai tập thẻ chú thích để đọc chơi khi rảnh rỗi hay khi máy bay trễ giờ. Có một lần, tại cửa khẩu Tân Sơn Nhất, va li xách tay của tôi bị lục lọi, và tôi nghe được câu nói của một vị chỉ huy: „Lấy đi! Những cái này quan trọng“. Rõ ràng hai chục năm sau họ vẫn chưa bẻ được mật mã. Chỉ có Kiều mới bẻ được. Sau đó, mặc dầu tôi làm đơn xin nhiều lần để lấy lại các thẻ đó nhưng không cách nào làm được.

Vì nhiều vướng mắc kiểu như vậy, một thời gian sau, tôi đành phải rút công việc ra khỏi Việt Nam. Nếu tôi không đảm bảo được cho sự hiện diện của cá nhân mình, làm sao tôi có thể làm đại diện cho khách hàng? May mà Kiều đã khuyến khích tôi học chữ Hán, nên tôi có đủ khả năng để trở lại làm ăn tại Trung Quốc.

Dù sao, trước khi ra khỏi Việt Nam còn có một nơi mà tôi phải đến. Tôi phải viếng thăm làng Tiên Điền để từ giã Nguyễn Du! Mặc dầu không xin được visa chính thức nhưng nếu xin visa cấp tốc tại Nam Vang và trả thêm chút đỉnh cho người trung gian là có được visa. Tôi nộp đơn buổi sáng và nhận visa buổi chiều mà không bị lục vấn gì!

Nhận visa xong (khi đó là khoảng tháng 10 năm 1995), tôi trở lại Băng Cốc để đón xe đò buổi tối đi Nhakhon Phanum sát bờ sông Cửu Long. Băng qua sông là đến Lào rồi lên núi tới biên giới Việt Nam. Làm thủ tục nhập cảnh suôn sẻ gần xong thì chợt người đi cùng xe lại chào hỏi tôi bằng tiếng Việt. Những người đi cùng chuyến xe với tôi là dân buôn lậu và có vẻ rất quen biết công an cửa khẩu. Nhân viên đang cầm dấu trong tay bèn hỏi tôi: „Ủa, anh nói tiếng Việt hả?“. Lần đầu tiên trong đời, có người hỏi tôi câu đó mà tôi làm thinh luôn. Một lát sau, dấu được đóng, tôi nhập cảnh và chiều tối thì đến Vinh.

Ngày hôm sau tôi đến khu di tích Nguyễn Du. Lúc tới nơi là ngay sau khi nghỉ buổi trưa. Mặc dầu chưa đến giờ mở cửa, nhưng một nhân viên đã ra đón tiếp nồng hậu. Cô đưa tôi vào nhà tưởng niệm, đến bàn thờ đại thi hào và đưa cho tôi mấy nén nhang để thắp. Bản thân tôi không tin vào việc ấy nhưng từ chối thì coi như không lịch sự. Sau đó tôi đến thư viện nằm trong khu di tích để tặng bản in của luận án về Truyện Kiều. Cô hướng dẫn viên vui lòng mời tôi ký tên vào sổ lưu niệm. Ngay lúc ấy một đám sáu bảy học sinh mà tôi đã thấy chúng ngoài mé đồng kéo đến đứng chật cửa dòm vào. Chúng bít hết ánh sáng và không khí. Hai lần tôi nói nhẹ nhàng xin chúng vui lòng lui ra. Trong thư viện nóng nực và đen thui mà chúng chưa chịu đi. Mồ hôi chảy từ tay xuống làm dơ cuốn sổ lưu niệm và khiến tôi không ký tên được. Một lần nữa, tôi đuổi đám học sinh, lần này khá gay gắt.

Ký xong, tôi ngước lên thì thấy chúng đã trở lại. Đứng chính giữa cửa là đứa nhỏ nhất đang cầm trong tay một bó hoa dại. Đứa bé lại gần đưa hoa tận tay tôi. Tôi cảm động đến đỗi nghẹn lời không nói ra được tiếng nào.

Nghĩ các em ở gần khu di tích Nguyễn Du, chắc chúng tự coi mình là con cháu của Nguyễn Du. Chắc chúng cũng chưa từng thấy một người nước ngoài đến thăm khu mộ một mình nên chỉ muốn đền đáp ơn nghĩa phần nào. Sau gần ba chục năm quan hệ với Việt Nam, đó là khoảnh khắc quý báu nhất, tiếc là lại nhằm vào lúc tôi chuẩn bị ra đi. Đêm đó trên xe lửa đi Đà Nẵng, nhân viên trên tàu cười bó hoa đã héo hết và biểu tôi vứt đi. Nhưng hai chục năm sau tôi vẫn giữ!

Năm nay (2015) nhân kỷ niệm 250 năm sinh của Nguyễn Du tôi có dịp thăm lại khu di tích Nguyễn Du. Nhìn người thuyết minh cho đoàn, tôi thấy quen quen. Suy nghĩ rất lâu tôi mới nghĩ ra rằng cô giống hệt người đón tiếp tôi hai mươi năm trước. Nhưng tuổi cô chỉ chừng ba mươi mấy nên tôi thắc mắc làm sao quen được. Cuối cùng tôi mạnh dạn trực tiếp hỏi, cô cười cười trả lời: „Đó là mẹ tôi!“

Vậy làm sao nói nàng Kiều và tôi không có duyên với nhau!

Benoit-HaTinh-03a.png

Khu di tích Nguyễn Du, Hà Tĩnh, ngày 09.08.2015 – người hướng dẫn chắc hẳn là nhân vật mà tác giả đã nhắc đến ở cuối bài!  (Ảnh từ tư liệu video của THQ)

Nguồn: Charles Benoit (Lê Vân Nam), Diễn tiến câu chuyện Vương Thuý Kiều: Từ sự kiện lịch sử Trung Hoa đến kiệt tác văn chương Việt Nam, do Nguyễn Nam, Trần Hải Yến, Nguyễn Đào Nguyên và Mai Thu Hiền dịch, Nxb Thế Giới, 2016. Xin chân thành cám ơn TS Trần Hải Yến (Viện Văn học, Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam) đã cung cấp bản thảo bài viết!

Standard

Nguyễn Nam – LỜI THƯA TRƯỚC CỦA MỘT NGƯỜI DỊCH (Giới thiệu công trình „Diễn tiến câu chuyện Vương Thuý Kiều: Từ sự kiện kịch sử Trung Hoa đến kiệt tác văn chương Việt Nam“ của Charles Benoit)

benoit-kieu-04

 

Bản dịch tiếng Việt công trình „Diễn tiến câu chuyện Vương Thuý Kiều: Từ sự kiện kịch sử Trung Hoa đến kiệt tác văn chương Việt Nam“ của tác giả Charles Benoit (Lê Vân Nam) do Trung tâm Quốc học phát hành vừa ra mắt trong những ngày này tại Nhà xuất bản Thế Giới. Bản gốc tiếng Anh là luận án Tiến sỹ của tác giả, bảo vệ tại Đại học Harvard năm 1981 („The Evolution of the Wang Cuiqiao Tale: From Historical Event in China to Literary Masterpiece in Vietnam“, Harvard University 1981).

Được sự đồng ý của nhóm dịch giả (Nguyễn Nam, Trần Hải Yến, Nguyễn Đào Nguyên, Mai Thu Huyền) Blog Dự án Truyện Kiều song ngữ Đức-Việt rất vui mừng được đăng lại bài viết LỜI THƯA TRƯỚC CỦA MỘT NGƯỜI DỊCH của dịch giả TS. Nguyễn Nam (Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh) in trong cuốn sách. Sách giá 165.000 VND, sẽ được bán ở Hà Nội tại 62 Nguyễn Chí Thanh và Đinh Lễ, ở TP Hồ Chí Minh tại Fahasa, Nhà sách Hà Nội, 245 Nguyễn Thị Minh Khai, nhà sách Minh Khai, 249 Nguyễn Thị Minh Khai. Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.  

 

Tôi được một người bạn giới thiệu luận án tiến sĩ của Charles Benoit khi lần đầu đến Mỹ vào năm 1991, mười năm sau khi luận án này được bảo vệ (1981) ở Khoa Ngôn ngữ và Văn minh Đông Á của Đại học Harvard. Người Việt mình dễ dàng nhận rằng Truyện Kiều rất quen thuộc, và mỗi khi nhắc đến gốc tích của kiệt tác văn chương này, hẳn ta sẽ được nghe một luận điểm tựa như đã trở thành “chân lý”, ấy là ngòi bút thiên tài Nguyễn Du đã sáng tác nên một thiên tuyệt bút dựa theo một bộ tiểu thuyết “tầm thường” của Trung Hoa. Từ những khảo cứu của các học giả tiền bối khả kính, cũng không ít người có thể chỉ thêm về những nguồn sử liệu về lịch sử tiễu trừ hải tặc ở vùng duyên hải đông nam Trung Hoa, với những nhân vật có thực như Hồ Tôn Hiến, Từ Hải, Vương Thúy Kiều như là chất liệu để Thanh Tâm Tài Nhân xây dựng nên bộ tiểu thuyết Kim Vân Kiều truyện. Thế nên, luận án „Diễn tiến câu chuyện Vương Thúy Kiều: Từ sự kiện lịch sử ở Trung Hoa đến kiệt tác văn chương ở Việt Nam“ vừa “quen” nhưng cũng rất lạ với tôi khi ấy vì nó vượt xa ngoài những hiểu biết hời hợt cá nhân vốn có và thảo luận chi tiết cả một quá trình tiến hóa phức tạp xuyên quốc gia từ sử đến văn.

Ấn tượng mạnh mẽ bởi những luận điểm mới được hình thành từ một khối lượng tư liệu phong phú, đồ sộ trình bày qua gần 400 trang luận án, tôi đã viết một “thu hoạch” nhan đề “The Tale of Kieu and Its Heroine as a ‘Lotus in the Mire’: Some Reflections upon Charles E. Benoit, Jr.’s Dissertation” (Truyện Kiều và nhân vật nữ chính như ‘sen trong bùn’: Một số suy nghĩ về luận án của Charles E. Benoit, Jr.), sau đăng trên Tập san Khoa học A của Đại học Tổng hợp Tp. Hồ Chí Minh (1/1994, tr. 86-95). Phần tóm tắt bằng tiếng Việt của bài viết có đoạn liên quan đến con đường giả định về quá trình hình thành kết cấu của Kim Vân Kiều truyện như sau:

Sự kiện lịch sử đậm tính bi kịch xảy ra năm 1556 ở vùng duyên hải đông – nam Trung Quốc đã làm xao động nhiều người: quan trọng thần Hồ Tôn Hiến bội ước, giết Từ Hải, ngược đãi Vương Thúy Kiều khiến người phụ nữ này phải tự tử. Sau sự kiện trên, lần lượt ra đời nhiều sáng tác văn chương miêu tả Vương Thúy Kiều qua nhiều diện mạo khác nhau: Kiều từ một cô gái sắc đẹp chỉ ở bậc trung, chuyển thành có nhan sắc, tài hoa và cuối cùng là giai nhân đủ tài “pha nghề thi họa, đủ mùi ca ngâm”. Đến đây, Kiều đã có đủ phẩm chất cần yếu để trở thành nhân vật chính của loại tiểu thuyết tài tử giai nhân thịnh hành thời ấy. Cái quá khứ ca kỹ có thực trong lịch sử của nàng Vương lại trùng khớp với một dòng tiểu thuyết về chốn thanh lâu đang có ở Trung Quốc bấy giờ. Tuân thủ kết cấu “Hội ngộ – Tai biến và ly tán – Tái hồi” mà xuất hiện Kim Trọng – nhân vật nam chính sẽ xuất hiện ở đầu và cuối truyện. Hoàn cảnh đặc biệt của Kiều không giống với các nhân vật nữ trong tiểu thuyết tài tử giai nhân: họ dù qua nhiều tai biến vẫn giữ tròn chữ trinh. Chuyện Kiều được cứu sống và đoạn đại đoàn viên theo đúng bài bản vẫn không xóa được ấn tượng về chữ trinh đã mất của Kiều. Thúy Vân được “cài” sẵn từ đầu truyện để thành thân với Kim Trọng, để thực hiện cái hậu đề huề “một sân quế hòe”. Các thế lực siêu nhiên trong truyện một phần phản ánh thế giới quan của tác giả, một phần giữ cho câu chuyện đi đúng theo kết cấu của loại tiểu thuyết mà tác giả đã chọn để sáng tác (tr.95).

Nhận xét ở trên chỉ như là một ghi chú (footnote) thêm vào những phân tích rất thuyết phục của Benoit liên quan đến việc Thanh Tâm Tài Nhân đã vay mượn và vận dụng mô thức căn bản của văn chương tài tử giai nhân như thế nào trong khi kiến tạo Kim Vân Kiều truyện (xem Chương Năm của luận án). Mấy nhận xét vụn vặt nêu trên cũng chỉ là ý kiến sơ bộ sau khi đọc luận án hơn hai mươi năm trước, và rõ ràng nó chỉ mới chạm đến góc văn chương rất nhỏ của một thế giới phồn phức, hỗn độn giữa “hiện thực” và “hư cấu” được thảo luận trong luận án. Nhờ đọc kỹ các văn bản mà Benoit đã có thể đưa ra những nhận xét tinh tế về quá trình diễn biến của câu chuyện Vương Thúy Kiều. Đối sánh Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân với Truyện Kiều của Nguyễn Du, Benoit đã có không ít phát hiện/đoán định thú vị, chẳng hạn như về những nguồn văn-sử liệu Nguyễn Du có thể đã sử dụng trong khi sáng tác Truyện Kiều:

Ngoài bộ sách này [tức “Kim Vân Kiều truyện” của Thanh Tâm Tài Nhân], Nguyễn Du chắc chắn đã tiếp xúc với ít nhất một nguồn tài liệu khác liên quan đến chuyện Vương Thúy Kiều. Hai câu 2451-2452 trong tác phẩm truyện thơ của ông viết:“Có quan tổng đốc trọng thần – Là Hồ Tôn Hiến kinh luân gồm tài”. Trong tiểu thuyết, Hồ chẳng những không được nêu tên mà cả tước vị cũng không được nói đến. Thế nên, để có thông tin này, Nguyễn Du hẳn phải tiếp xúc được với một nguồn tài liệu khác. Có thể đây là tiểu truyện về Hồ được chép trong “Minh sử” mà Nguyễn Du hẳn đã được đọc. Hoặc giả, có thể ông đã đọc “Từ Hải bản mạt” của Mao Khôn (…) Nhưng khả năng cao nhất là “Vương Thúy Kiều truyện” của Dư Hoài (…) Vựng tập trong đó ghi chép của Dư Hoài được công bố lần đầu cũng bao gồm câu chuyện về một tỳ thiếp bạc mệnh tên Tiểu Thanh. (…) Dù không chắc rằng Nguyễn Du có đọc truyện Tiểu Thanh trong vựng tập này hay không, ông ắt phải quen thuộc với một bản nào đó, vì ông đã viết một bài thơ nổi tiếng về nàng (…) Ngoài ra, miêu tả của Nguyễn Du về tính thích phiêu lưu của nhân vật [Từ Hải] trong truyện thơ (câu 2214-2216) và vai trò của triều đình đối với cái chết của nhân vật (câu 2545), tuy không có trong tiểu thuyết lại được thể hiện trong câu chuyện của Dư Hoài.

(Benoit 1981, 7, chú thích 3)

Nhận xét trên đây cho thấy Truyện Kiều có thể đã được sáng tác trên cơ sở tham khảo không chỉ một nguồn tư liệu duy nhất, không dừng lại ở một tác phẩm văn chương mà mở rộng đến những ghi chép mang tính lịch sử khác. Từ Hải bản mạt của Mao Khôn, tiểu truyện Hồ Tôn Hiến trong Minh sử, hay Vương Thúy Kiều truyện của Dư Hoài là một số trong những tác phẩm nặng chất “sử” đã được Benoit phân tích khá cặn kẽ, và qua đó, người đọc có thể thấy được tính hư cấu của “lịch sử”.

Đã có không ít tác phẩm được viết dưới triều Minh, dán nhãn “lịch sử” liên quan đến cuộc tiễu trừ Từ Hải của Tổng đốc Hồ Tôn Hiến. Việc tập hợp những tài liệu “lịch sử” ấy lại với nhau, xem xét chúng trong quan hệ tương tác – đối sánh với nhãn quan phê phán cho thấy tất cả đều là những dạng tự sự đầy thiên kiến, bóp méo lịch-sử-như-nó-vốn-tồn-tại và nhào nặn nó theo ý đồ chủ quan xuất phát những lợi ích cá nhân, phe đảng. Hiện thực lịch sử vốn phức tạp và đa chiều như một chú voi thách thức khả năng của những người thầy bói mù vọng tưởng có thể nắm bắt được nó một cách trọn vẹn. Lại càng tệ hại hơn nữa là khi những người thầy bói ấy, thay vì miêu tả chân xác mảnh vụn hiện thực mà họ nhận biết được trong phạm vi tri thức hạn hẹp của mình (“hiện thực” được miêu tả ở đây tất nhiên là phiến diện và sai lệch, nhưng đáng quý là lòng thành của họ), lại chủ tâm làm sai lệch đi cái vốn dĩ đã chỉ là một phần rất nhỏ của sự thật (ấy là chưa kể đến một thành ngữ thông dụng, “Half of the truth is often a whole lie” – một nửa của sự thật thường là một điều lừa dối hoàn toàn). Câu “tận tín thư bất như vô thư 盡信書不如無書” trong sách Mạnh Tử (thiên “Tận tâm” hạ) vốn yêu cầu người đọc phải có suy nghĩ độc lập khi đọc sách chứ không nên tin hết cả những gì sách viết, có thể viết lại thành “tận tín nhất thư bất như vô thư” – tin hết cả vào một quyển sách chẳng bằng không có sách. Nếu chỉ xem mỗi một Từ Hải bản mạt (hay bất kỳ một bộ sách nào khác) mà không đọc rộng ra những tài liệu khác cùng chủ đề, người đọc sẽ không bao giờ thấy được sự phức tạp của thế giới văn bản do con người kiến tạo ra để vụ lợi cho những mục đích chính trị của một nhóm người hay một triều đại.

Benoit đã dẫn dắt người đọc đi từ hiện thực đến “lịch sử” và cuối cùng dừng lại ở văn chương nơi mà hư cấu được mặc nhiên công nhận, không cần che giấu. Ông viết:

Ngoài việc chịu trách nhiệm cho phán xét tiêu cực về tính cách của Hồ vẫn dai dẳng tồn tại cho đến nay, nỗ lực có-ý-định-tốt của Mao Khôn nhằm che chắn Hồ khỏi khiển-trách-nhất-định đã có một hậu quả vô tình khác (…). Sự tiêu cực của Hồ Tôn Hiến, kết hợp với vai trò tích cực của nữ nhân vật chính được Hải sủng ái – Vương Thúy Kiều (…) đã tạo cảm hứng cho các tác giả và kịch tác gia đời sau thay đổi vai trò của Từ Hải. Trong lãnh địa văn chương, những khẳng định về tính khả kính của Hồ Tôn Hiến, viên quan tôn quý, và Từ Hải – tên hải tặc đáng khinh, dần dần trở nên đảo ngược. Dù không thể phủ nhận các xung động sáng tạo của những người lật đổ phán quyết lịch sử của Mao, chính Mao Khôn mới là người cần được phán xét là người trước hết phải chịu trách nhiệm về việc Hải trở thành một người nổi loạn nghĩa khí, còn kẻ thù xảo trá và hèn nhát của ông – Hồ Tôn Hiến là hiện thân của triều đình tham nhũng và suy đồi mà Từ Hải tìm cách lật đổ.

(Benoit 1981, 99)

Nhiều khả năng là Nguyễn Du đã đọc Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân cùng với những sử liệu khác liên quan đến bộ ba Hồ Tôn Hiến – Từ Hải – Vương Thúy Kiều trước khi đề bút viết nên Truyện Kiều của riêng mình. Nói cách khác, ông đọc cả hai loại tác phẩm hư cấu, “lịch sử” và tiểu thuyết, và có thể đã tìm thấy sự nhất trí giữa tiểu thuyết của Thanh Tâm Tài Nhân và Vương Thúy Kiều truyện của Dư Hoài. Và có thể cũng chính vì thế mà quan hệ tay ba Hồ – Từ – Vương cũng theo đó được Nguyễn Du phát triển khác với những gì được miêu tả trong Từ Hải bản mạt.

Với những người đọc sách, luôn có một số tác phẩm nào đấy gắn bó với họ như số phận. Tôi tìm đến luận án của Benoit từ hơn hai mươi năm trước và không rời nó được từ đó đến nay. Dường như cũng là cơ duyên khi tôi được học với Giáo sư Patrick Dewes Hanan (1927-2014) – một trong những nhà Hán học hàng đầu thế giới chuyên về tiểu thuyết Trung Quốc và cũng là người hướng dẫn luận án tiến sĩ của Benoit. Mỗi khi có dịp trò chuyện với GS. Hanan, tôi thường nghe Thầy nhắc đến luận án của Benoit, và cả hai thầy trò đều mong mỏi một ngày nào đó công trình xuất sắc này sẽ được dịch sang tiếng Việt. Đến nay, luận án của Benoit đã được lưu hành trong phạm vi một số nhà nghiên cứu ở Việt Nam. Tưởng cũng nên nhắc thêm rằng khoảng năm 1995, Benoit có về thăm làng Tiên Điền và tặng Khu Di tích Nguyễn Du một bản luận văn của mình. Ngày 11 tháng Mười hai năm 2008, Ban Quản lý Khu Di tích lại tiếp nhận thêm một bản nữa của luận án do Viện Văn học trao tặng . Đồng thời với việc lưu truyền bản luận án ở trong nước là nhu cầu phiên dịch bản văn này sang tiếng Việt để giới học thuật và công chúng bạn đọc tiện đường tham khảo.

Với tôi, điều khó nhất cần thực hiện trước khi bắt tay vào phiên dịch là làm thế nào liên lạc được với Benoit để xin phép. Trong chừng mực nào đấy, Benoit như một huyền thoại đối với tôi. Nghe nói ông giỏi tiếng Việt, đã từng giảng dạy ngôn ngữ này tại Đại học Harvard; cũng nghe nói rằng sau khi nhận bằng Tiến sĩ ở Harvard, Benoit đã quay lại Việt Nam một thời gian, rồi sau chuyển sang kinh doanh trên thương trường (một điều không dễ dàng với những người đã lâu năm quen với sách vở trong những ngành khoa học xã hội và nhân văn), nhưng không biết hiện nay đang ở đâu. Sau những tìm kiếm thất bại qua mạng Google, có lúc tôi cảm thấy vô vọng và đã định bỏ cuộc. Tháng Giêng năm 2012, sau khi rao tìm qua mạng học thuật quốc tế Vietnam Studies Group (VSG), tôi may mắn nối kết được với Benoit và được ông đồng ý cho phép dịch bản luận văn sang tiếng Việt.

Đã nhận được sự đồng ý của tác giả, tôi liên lạc với bạn đồng nghiệp ở Viện Văn học – Trần Hải Yến, và cùng nhau, chúng tôi hợp thành một nhóm phiên dịch (trong quá trình dịch về sau, nhóm đã mở rộng thêm). Nói về cơ duyên, việc phiên dịch lần này ở vào thời điểm vừa chín tới. Tôi không thể hình dung được sẽ khó khăn như thế nào nếu dịch luận án của Benoit khoảng mươi năm về trước, khi tư liệu tham khảo từ các trang học thuật trên mạng Internet chưa được phong phú như hiện nay. Benoit đã sử dụng một khối lượng tư liệu đáng kể (15 trang thư mục tham khảo) trong luận án của ông, trong đó có nhiều bộ sách tương đối khó tìm ở Việt Nam như Trù hải đồ biên, Minh sử hay Thế Tông thực lục. Ông đã dịch rất nhiều đoạn từ những nguồn tư liệu Trung Hoa khác nhau, và trong những đoạn dịch này, toàn bộ những nhân danh, địa danh đều được viết theo pinyin (bính âm 拼音) tiêu chuẩn của Hán ngữ hiện đại không mấy gần gũi với bạn đọc Việt Nam vốn quen thuộc với hệ thống phiên âm Việt Hán; thêm nữa, các chức danh, quan danh đều được dịch sang Anh ngữ, tuy tiện cho độc giả hình dung được chức năng và quyền hạn của chúng nhưng lại khá xa lạ với những ai đã quen với thượng thư, tổng đốc, hay tuần phủ. Dịch những đoạn văn như thế sang tiếng Việt không khéo sẽ rơi vào tình trạng “dịch từ bản dịch”, khiến bản dịch Việt ngữ càng đi xa hơn với nguyên văn Hán ngữ. Giải pháp tốt nhất cho vấn đề này không gì khác hơn là truy nguyên bản gốc, và dịch đối chiếu – tham khảo từ cả hai bản Hán văn và Anh văn, đồng thời chuyển toàn bộ các nhân danh, địa danh, quan danh sang phiên âm Việt Hán. Đây là một trong những thách thức lớn nhất đối với nhóm phiên dịch. Rất may là chúng tôi được phép sử dụng hệ thống thư viện phong phú của Đại học Harvard (bao gồm các kho sách, tư liệu số hóa, và các mạng tư liệu học thuật dành riêng cho trường đại học); mặt khác, cũng thật may mắn là khá nhiều văn – sử liệu Trung Hoa đã được số hóa và có thể truy cập được qua mạng Internet.

Tuy được phép của tác giả từ năm 2012, việc phiên dịch kéo khá dài từ đấy cho đến tận giữa tháng Chín năm 2015, phần lớn nguyên nhân của sự chậm trễ này là do hạn chế về thời gian của người dịch cũng là tác giả của bài viết này. Tuy vậy, bản dịch nay đã hoàn tất (và còn xa mới có thể được xem là hoàn hảo), với nhiều bổ sung chữ Hán vào phần chính văn và chú thích (một điều rất khó thực hiện khoảng 35 năm về trước, khi bản đánh máy phải chừa chỗ trống để sau có thể điền thêm chữ Hán viết tay vào đấy).

Lại còn có một việc nữa xin được thưa trình. Trong quá trình chuẩn bị bản thảo, theo quy ước trình bày trang bìa sách, nhóm phiên dịch đã đặt tên tác giả Charles Benoit ở đầu trang, kế đến là tên sách, tiếp theo sau là tên những người dịch. Tưởng chừng như thế là ổn, nào ngờ cách trình bày này lại gặp phải sự phản ứng ngay từ phía tác giả. Trong thư trao đổi ngày 22 tháng Chín năm 2015, Benoit đã giải thích vì sao ông không đồng ý với hình thức trình bày này. Theo Benoit, vào đầu thập niên 1990, ông đã có nhiều cuộc thảo luận với Giáo sư Nguyễn Văn Hoàn (Viện Văn học) để lên kế hoạch dịch bản luận án sang tiếng Việt. Tiếc thay, do hạn chế khách quan, dự tính này đã không thể thực hiện được từ đấy cho đến tận bây giờ. Xin phép được trích một đoạn trong bức thư của ông như sau:

Vâng, luận án là của tôi nhưng bản dịch không phải là của tôi. Bản dịch đúng ra thuộc về những người phiên dịch, chứ không phải thuộc về tác giả, bởi lẽ nếu không có công lao động chỉ vì tình yêu bất vụ lợi ấy, thì sẽ chẳng có sách. Từ năm 1981 đến năm 2012 (31 năm!), những bản in luận án của tôi đã nằm yên trong thùng giấy mà tôi mang theo bên mình từ Mỹ, sang Hong Kong, đến Việt Nam, qua Trung Quốc, tới Bangkok, và suốt trong thời gian ấy, chẳng ai đọc đến nó cả. Nhưng bây giờ, nó sẽ được đọc, và tôi cảm tạ những người phiên dịch vì việc ấy. Và đó chính là lý do tại sao tôi muốn tên của họ được in đậm ở vị trí đầu trang, và tên của tôi in nhạt hơn đâu đó ở cuối trang. Đây không phải là hành động từ thiện hay khiêm tốn về phía tôi, nó chỉ là thừa nhận sự thật, và quy công về nơi công trạng đáng được công nhận.

Những dòng chữ chân tình ấy của tác giả đã khiến nhóm phiên dịch rất cảm kích, nhưng thực ra có bột mới gột nên hồ, không có luận án công phu của tác giả, thì cũng không bao giờ có được bản dịch hôm nay. Vì vậy, nhóm phiên dịch buộc phải “trái ý” tác giả, thuận theo quy ước xuất bản mà tôn vinh tác giả ở vị trí đầu trang bìa như quý độc giả đã thấy. Nhân đây, chúng tôi thành thực xin lỗi tác giả và mong được lượng thứ.

Bản dịch luận án của tác giả Charles Benoit có thể xem là một nén tâm hương của nhóm dịch thắp lên nhân dịp kỷ niệm 250 năm sinh của Tố Như. Về cá nhân, tôi xin cảm ơn Tiến sĩ Benoit và các đồng nghiệp, đặc biệt là bạn Trần Hải Yến, đã giúp hoàn thành bản dịch này để tôi làm tròn lời hứa trước lúc Thầy tôi đi xa: giới thiệu luận án của tiến sĩ Charles Benoit đến với bạn đọc trong nước qua một bản dịch tiếng Việt. Dù cả nhóm đã rất cố gắng , bản dịch tất nhiên sẽ còn những sai sót, kính mong các bậc bác nhã phủ chính, lại mong bản dịch sẽ còn có dịp tái bản hoàn thiện hơn trong tương lai.

Thảo Điền, ngày 29 tháng Chín năm 2015

 

Phụ lục:

benoit-kieu-05

Tổng quan về lịch sử của câu chuyện Vương Thuý Kiều (ảnh chụp từ trang 373 của luận án Tiến sỹ của Charles Benoit). Cám ơn nhà nghiên cứu và dịch giả Jan Komárek (Praha) đã gửi cho Blog Dự án Truyện Kiều song ngữ Đức-Việt bản chụp toàn văn của Luận án.   

Standard

Das Mädchen Kiều – Erste zweisprachige Ausgabe ab sofort verfügbar

Kieubuch-2015

 

NGUYEN DU, Das Mädchen Kiều, Deutsche Nachdichtung von Irene und Franz Faber, herausgegeben von Claudia Borchers und Truong Hong Quang, deutsch-vietnamesische zweisprachige Ausgabe, Titelillustration: Claudia Borchers, Einbandgestaltung: Angelika Schulze, mit Farbfotos versehen, Verlag Thế Giới, Hanoi 2015, 442 Seiten, ISBN: 978-604-77-2044-6

In Deutschland leben zur Zeit etwa 125.000 Menschen, die ihren Ursprung einem Land verdanken, dessen Name den Bewohnern der westlichen Hemisphäre ein Gefühl geheimnisvoller Fremdheit vermittelt und das Wissen, das die Geschichte dieses Landes ihr politisches Bewusstsein der 70er Jahre des vergangenen Jahrhunderts geprägt hat – Vietnam.

Das gemeinsame Leben vietnamesischer und deutscher Mitbürger gilt vielen als Vorbild gelungener Integration. Eine mögliche Erklärung dafür mag sich im kollektiven Erinnern an eine Erzählung finden, die fest mit der Seele des vietnamesischen Volkes verbunden ist: „Truyện Kiều“ („Das Mädchen Kiều“) von Nguyễn Du (1765-1820).

Auf ausdrücklichen und persönlichen Wunsch von Ho Chi Minh übersetzten Irene und Franz Faber in siebenjähriger gemeinsamer Arbeit den Versroman, der 1964 das erste Mal in deutscher Sprache veröffentlicht wurde. Die Selbstlosigkeit und Liebesfähigkeit einer Frau wird Ausdruck des Lebensgefühls und damit das Nationalepos eines ganzen Volkes. Das kann nur einem außergewöhnlichen Dichter gelingen.

Aus Anlass seines 250. Geburtstages haben Dr. phil. Truong Hong Quang (Autor einer vergleichenden Darstellung von Goethes „Faust“ und des „Mädchen Kiều „) und die bildende Künstlerin Claudia Viet-Duc Borchers (biografisch eng mit Vietnam verbunden)  beschlossen, erstmals eine zweisprachige Ausgabe dieser einmaligen Liebesgeschichte zu veranlassen. Das Buch ist inzwischen mit großzügiger Unterstützung des Vereins vietnamesischer Unternehmer in Deutschland e.V. erschienen. Auf besondere Weise ist dieses Stück Kulturgeschichte und eine wirklich außergewöhnliche Dichtung nun vietnamesischen und deutschen Lesern gleichermaßen zugänglich.

Einzelpreis: 19,90 € (zuzüglich Versandkosten), zu beziehen über Frau Claudia Borchers, Bizetstr. 102b, 13088 Berlin, Telefon: 030-9268252, E-Mail: claudiaborchers@mac.com   

Standard

“Cảo thơm lần giở trước đèn…” – Moderationstexte zur Buchpremiere “DAS MÄDCHEN KIỀU”/Kịch bản dẫn chương trình ra mắt Truyện Kiều song ngữ Đức-Việt, Berlin, 01.05.2016

SONY DSC

Sound- und Videocheck vor dem Programmbeginn / Thử âm thanh và video trước giờ khai mạc, Ảnh: Trương Trần Phúc

 

“Truyện Kiều” (Die Geschichte von Kiều) – so der Titel des Originalwerkes – wurde von Nguyễn Du, der ein Zeitgenosse von Goethe war, vor mehr als 200 Jahren geschrieben. Ein Jahrhundert nach dessen Entstehung konnte der bedeutende Kulturpolitiker Phạm Quỳnh, damals noch inmitten der französischen Kolonialzeit, in Bezug auf dieses Werk sagen: „Solange es Truyện Kiều gibt, so lange existiert unsere Sprache. Und solange unsere Sprache existiert, solange besteht unsere Nation.“ Dieses Buch – so Phạm Quỳnh weiter – ist „sowohl unsere Heilige Schift, als auch unser Nationalepos und unser Evangelium“.

Nguyễn Du, người đương thời của thi hào Đức Goethe, đã viết Truyện Kiều cách đây hơn 200 năm. Một thế kỷ sau khi tác phẩm này xuất hiện, giữa thời thuộc địa Pháp, nhà hoạt động văn hoá lỗi lạc Phạm Quỳnh đã có thể nói: „Truyện Kiều còn, tiếng ta còn, tiếng ta còn, nước ta còn“. Cuốn sách này – Phạm Quỳnh nói tiếp – „vừa là kinh, vừa là truyện, vừa là thánh thư phúc âm của cả một dân tộc.“

Nicht nur im Inland, sondern weit über dessen Grenzen hinaus, ist „Das Mädchen Kieu“ das literarisch-sprachliche Erkennungszeichen der vietnamesischen Kultur schlechthin. Bis heute wurde es in mehr 20 Sprachen übersetzt, darunter allein in der französischen Sprache mit 11 unterschiedlichen Fassungen!    

Vượt lên khỏi phạm vi quốc gia, Truyện Kiều từ lâu đã trở thành một biểu tượng ngôn ngữ – văn chương của nền văn hoá Việt Nam. Tính cho đến nay, tác phẩm này đã được dịch ra trên 20 ngôn ngữ, chỉ riêng trong tiếng Pháp đã tới 11 bản dịch trọn vẹn khác nhau!

Wir sind heute natürlich zusammengekommen, um vor allem die deutsche Nachdichtung „Das Mädchen Kiều“ von Irene und Franz Faber und deren Neuauflage in einer besonderen Symbiose mit dem vietnamesischen Originalwerk zu feiern – entworfen in der Gestalt eines Wendebuchs durch die Buchgestalterin ANGELIKA SCHULZE und mit einer wunderbaren Titelillustration der Malerin und Mitherausgeberin CLAUDIA BORCHERS versehen. Spätestens an dieser Stelle möchte ich Sie beide auch ganz herzlich begrüßen!

Hôm nay đương nhiên chúng ta họp mặt ở đây trước hết là để nói về bản dịch thơ tiếng Đức „Nàng Kiều“ của Irene và Franz Faber và chào mừng việc tái bản nó trong một sự tổng hợp đặc biệt với bản gốc tiếng Việt, được thực hiện dưới hình thức một cuốn sách trở đầu của nhà thiết kế sách ANGELIKA SCHULZE và với một hình minh hoạ bìa tuyệt vời của nữ hoạ sỹ CLAUDIA VIỆT-ĐỨC BORCHERS. Chậm nhất đến thời điểm này xin gửi lời chào thân ái đến hai chị!

Gleich im Anschluss werden Sie ein Video sehen, eine Art Making-of über unser Projekt, in dem die Stimme von Franz Faber zu hören, die Bilder aus dem faszinierenden Leben von ihm und seiner Frau Irene zu sehen sind, in dem nicht zuletzt auch die Teammitglieder und die Mitwirkenden an der heutigen Veranstaltung sich zu Wort melden.

Ngay sau đây quý vị và các bạn sẽ xem một phim Video, một Making-of về dự án Truyện Kiều song ngữ Đức-Việt. Ở đó quý vị sẽ được nghe giọng nói của cố dịch giả và nhà thơ Franz Faber, thấy một số hình ảnh từ cuộc đời đầy biến cố của ông và vợ ông, Irene Faber, và đồng thời cũng sẽ đón nhận các chia sẻ từ các thành viên của nhóm dự án và những người tham dự chương trình hôm nay.

 

Siehe das vollständige MC-Skript zur Buchpremiere hier:
Xem tiếp toàn bộ nội dung phần dẫn chương trình ở đây:

MC-Skript Buchpremiere Das Mädchen Kiều 01.05.16

 

Standard